Tuy nhiên, cần nhận thấy, hạn vận phải hoàn tất những đề nghị trên tại Nghị quyết 103 (quý IV/2013) là ngắn và rất gấp, nên nếu việc thực hiện không được đổi mới, không tụ hội sẽ khó hoàn tất đề nghị đúng hạn với chất lượng cao
Quy định chế tài đủ mạnh và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm qui định của luật pháp (như không thực hành đầy đủ chế độ vắng thống kê, không thực hành nghiêm chỉnh luật pháp về cần lao,…) kể cả DN và các cơ quan có thẩm quyền… Bộ KHĐT và các bộ quản lý chuyên ngành cùng các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư tăng cường kết hợp, rà soát; khi cấp thiết thì tiến hành thẩm tra đối với các dự án đầu tư nước ngoài.
Nguồn: chinhphu. Nhiều DN FDI đầu tư bài bản, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, vẫn kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam. Thanh tra Chính phủ cùng các bộ, ngành, địa phương xây dựng qui chế phối hợp trong công tác quản lý quốc gia về đầu tư nước ngoài theo hướng tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Trung ương, giữa Trung ương và địa phương.
Tình hình tại các địa phương như vậy, nên dẫn đến việc các bộ, ngành ở Trung ương cũng chẳng thể kịp thời nắm bắt được tình hình các DN FDI trên phạm vi cả nước.
Bên cạnh đó, do điều kiện khách quan (không đủ người, phương tiện kĩ thuật quản lý thông tin, thưa thống kê còn thiếu) nên việc quản lý chủ yếu dựa vào các bẩm của DN, dựa vào sự chủ động và ý thức tự giác của DN trong việc tuân các quy định của luật pháp khi đã đi vào hoạt động sản xuất-kinh doanh.
Theo chinhphu. Ngay cả Sở KHĐT (thường được coi là cơ quan mai dong quản lý hoạt động FDI trên địa bàn) cũng không có đầy đủ và kịp thời các thông tin về tình hình nộp thuế, xuất du nhập, số lượng cần lao, chế độ lương lậu, tình hình thực hành hợp đồng lao động giữa người lao động với chủ doanh nghiệp… tại các doanh nghiệp FDI, nhất là các doanh nghiệp đầu tư trong các khu công nghiệp, khu kinh tế.
Vn. Bịt "lỗ hổng" trong công tác quản lý Nghị quyết 103/NQ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài đã không bỏ qua vấn đề DN FDI bỏ trốn, với các giải pháp từ giác độ quản lý quốc gia ở khâu quản lý sau cấp phép.
Cụ thể, tại phần điều chỉnh một số nguyên tắc quản lý và phân cấp đầu tư, Nghị quyết 103 chỉ rõ: Tăng cường công tác thanh tra, rà, giám sát đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư.
Từ giác độ quản lý Nhà nước thì có nguyên do do khâu thẩm tra, cấp phép chưa đúng qui định, còn để lọt các nhà đầu tư yếu kém về tài chính, công nghệ cũng như việc thả lỏng khâu quản lý các DN FDI sau cấp phép. Hiện nay, công tác quản lý quốc gia sau cấp phép cho dự án FDI gồm các nội dung: Hỗ trợ, rà và giám sát DN với sự kết hợp giữa Sở KHĐT (quản lý về tiến độ triển khai dự án, về góp vốn), Sở Tài chính (quản lý về tài chính), ngành Thuế (quản lý về thuế), Sở Công Thương (quản lý về tiêu thụ sản phẩm và thị trường), Sở LĐTBXH (quản lý về cần lao, tiền lương và việc làm), Sở Tài nguyên và Môi trường (quản lý về bảo vệ môi trường)… Nhìn sự phân công, phân cấp quản lý như trên thì thấy rất chặt, nhưng từ thực tại hoạt động của DN FDI có thể nhận ra rằng, có nhẽ chưa có một cơ quan quản lý Nhà nước nào trên địa bàn liền tù tù cập nhật để tổng hợp và nắm chắc được tình hình cũng như các biến động trong hoạt động sản xuất-kinh dinh của từng doanh nghiệp FDI trên địa bàn.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các DN chưa tuân thủ đầy đủ các quy định, trước hết là các quy định về chế độ ít thống kê…; nhiều DN không thưa, nhưng chúng ta vẫn thiếu quy định, chế tài xử lý.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét