Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Hàn Mạc Tử - một đời nặng chữ liên tục yêu.

Lên phố nhưng nhiều con hẻm lầy lội, nhu cầu xây dựng nhà cửa tăng cao, xe chở nguyên liệu cày nát đường bê tông

Hàn Mạc Tử - một đời nặng chữ yêu

Với Hàn Mạc Tử - nhu cầu yêu - dù yêu đơn phương, luôn mãnh liệt. Hơn chục năm rồi, thôn Vỹ lên phố, người ta nhại thơ Hàn Mạc Tử như sau: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ/ Nhìn giá nhà lên, giá đất lên/Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ. Trong di sản ông để lại cho hậu thế, đáng để ý là hàng loạt bài thơ tình cực hay, được biết nhiều nhất là Đây thôn Vỹ Dạ, bởi tình là nguyên tố kích thích sự thăng hoa của ông trên đỉnh cao nghệ thuật.

Hàng ngày, để “tiếp thị” cơm hến Vỹ Dạ, khách ăn uống được “khuyến mãi” giọng ca Lệ Quyên nức nở:   “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho/Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ/Ai mua trăng, tôi bán trăng cho/Chẳng bán tơ duyên ước hẹn hò.

Nhìn vào ngôi nhà mà Hàn biểu thị “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Tôi muốn chụp vài kiểu ảnh mà không biết chọn góc máy chỗ nào! Đang vòng quanh, bỗng gặp thi sĩ Trần Vàng Sao, ngồi nhậu lai rai với mấy người tôi quen, tôi hỏi anh: “Nhà chị Hoàng Cúc trong hẻm chùa Phước Huệ phải không anh?”. Cha là cụ Hoàng Phùng, mẹ là bà Tôn Nữ Thị Khuê, chánh quán làng Xuân Tùy (?) và trú quán tại thôn Vỹ Dạ - Huế.

Sau này ông Hoàng Tùng Ngâm (sinh 1912 - mất 1976) tụ họp ra Bắc, đổi tên thành Hoàng Thanh Trai nguyên đại sứ tại Ai Cập và Sri Lanka. (Còn nữa)   Vũ Hào. Thôn Vỹ. Khi Hoàng Cúc về Huế, ông tỏ tình vương vấn bằng cách lồng vào thơ những từ hoàng hoa”, là cử chỉ nghệ thuật công khai tình cảm sâu nặng của mình:  Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ bề   Ôi Hoàng hoa, hồn vía đến nơi đây   Hương ân nghĩa cho kết lại thành dây   phong phanh như lời thương nhớ hàng triệu.

Chưa vội, tôi ghé vào một quán giải khát, liền kề tường rào nhà cô Hoàng Cúc. Tiền”. Hỏi thăm cụ bà tuổi ngoài 80 đang trông quán: “Cụ ơi có phải bên kia là nhà cô Hoàng Cúc không?”, cụ trả lời giọng là lạ “Tui không biết, tui dưới biển mới lên đây ở”.

Bây chừ thôn Vỹ có 70% dân ngụ cư, phần đông là người vùng duyên hải Thừa Thiên - Huế lên, tiếp đến là công chức, cán bộ phía bắc Trung bộ vào.

”. Gật đầu, anh công nhận: Đúng đúng, bên cái điểm kinh doanh bi da biển hiệu Rôn đó. Cha của cô Kim Cúc thi đỗ Tú Tài Hán học kiêm cả Tây học, vào Qui Nhơn làm tham biện Sở Địa Chính. Má phấn môi son, chẳng thấy ai “mặt chữ điền”. Đến số nhà 24/12, tôi gặp một nữ giới đứng tuổi đang phơi hương trầm, tôi hỏi: “Đây phải nhà cô Hoàng Cúc?”.

Không một thi sĩ tình nào cùng thời (kể cả “ông hoàng” thơ tình Xuân Diệu), có cách nói với người thương “đắm đuối” như Hàn:  lâu nay sát ngõ, chẳng ngăn tường   Không dám sờ tay sợ lấm hương   Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá   Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương. Ngày xưa sương khói   Cô Hoàng Cúc lúc ở Qui Nhơn Nhân vật “thơ” Hoàng Hoa, Hoàng Cúc tên đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, một thiếu nữ Huế cùng gia đình lưu trú ở đường Khải Định - TP Qui Nhơn (1932 - 1936)

Hàn Mạc Tử - một đời nặng chữ yêu

Cô sinh ngày mồng 8/11 năm Quý Sửu (5/12/1913). Thôn Vỹ hiện nay hết vườn tược tre trúc, chia năm xẻ bảy manh mún, nhà lầu, biệt thự mọc lên san sát. Tôi cảm ơn rồi phóng xe đi tiếp, rất nồng nhiệt anh nói vói theo: Em vô đó làm chi, họ đi hết rồi, còn ai nữa. Chưa hết, trong hẻm bên nhà là tiệm cắt tóc, mấy cô đi ra đi vô, nhìn nhìn ngó ngó. Trời! vườn đâu còn xanh như ngọc, trúc đâu mà trúc.

Giả thử thiếu vắng ái tình có nhẽ đã không có một trong những nhà thơ tình lớn của thế kỷ XX.

Tội nghiệp ngôi đình làng nằm lọt thỏm giữa những nhà cao tầng, mặt tiền bị án ngữ bởi ngôi trường THCS và một cơ sở gì đó đang xây dựng. Hiện nay   Nơi đây ngày xưa là nhà cô Hoàng Cúc Trưa tháng chín, bão số 8 vừa tan, tôi đi giữa thôn Vỹ, dưới cái nắng gay gắt hơi đất ngùn ngụt. Rẽ vào đường Nguyễn Khoa Vy lúc học sinh Trường THCS Vỹ Dạ tan học, đường chật, ngang dọc ngõ tắt như bàn cờ.

Khi gia đình cô sống tại Qui Nhơn, Hàn Mạc Tử gặp và kết bạn với Hoàng Tùng Ngâm (cùng tuổi với Hàn) - em chú bác ruột với Kim Cúc và đang ở chung một nhà với cô.

Sau khi cô Hoàng Cúc mất khá lâu (ngày 3/2/1989), nay chỉ một số người cao tuổi ở Huế còn nhớ cô, ở hai cương vị: Cô giáo trường Trung học Đồng Khánh - Huế (nay là THPT Hai Bà Trưng) và nữ cư sĩ Phật giáo.

Còn nhà thơ tài giỏi bạc mệnh, may sao thôn Vỹ có đường mang tên Hàn Mạc Tử nằm ven sông Như Ý, tụ họp nhiều tiệm bán cơm hến cho du khách. Câu chuyện tâm sự của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết.

Bạn của Ngâm đông lắm, trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm. Ái tình ngầm ấy tạo nguồn cảm hứng, để Đây thôn Vỹ Dạ ra đời. Tôi chỉ biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn khác nói lại, chứ không phải Ngâm”.

Chị ấy ngơ ngẩn giải đáp “Tui không rõ, chỉ nghe nói là nhà cô Mai”. Đáng tiếc cho ông, người Huế có câu: “Khó nhất đốn tre, nhì ve (cưa) gái”! Lúc gặp Hoàng Cúc, Hàn còn rất trẻ (20 tuổi), kinh nghiệm về đàn bà chỉ giới hạn trong những xúc tiếp ít oi, xẻn lẻn, rụt rè.

Như vậy, “BÓNG HỒNG TRONG ĐÂY THÔN VỸ DẠ” - Không ai khác là Hoàng Thị Kim Cúc (Hoàng Hoa - Hoàng Cúc), người thử thách Hàn Mạc Tử với những khái niệm nghệ thuật của chính ông.

Gia đình cô Kim Cúc là một gia đình lễ giáo. Bàng hoàng trước vẻ ngây thơ của Hoàng Cúc (kém Hàn 1 tuổi), thơ Hàn chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn thơ mộng sang một phong cách đương đại, với các giá trị truyền thống của văn hóa Á Đông. Việc đó, ngày 13/3/1971 trong thư gửi đến nhà thơ Quách Tấn, cô nói khá rõ: “Hồi đó Tử thường đến chơi với Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét