Hai là, xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa thiết lập và khai triển đối tác chiến lược
Điều quan yếu là mỗi nhà nước phải biết tự lượng sức mình, trong quá trình xây dựng và triển khai phải gắn chặt với thực tại và lấy hiệu quả làm thước đo trong từng dự án hiệp tác cụ thể.
Tuy đã tạo được sự đan xen về lợi. Để xây dựng đối tác chiến lược là một quá trình khó khăn, lâu dài và không phải lúc nào chúng ta muốn xúc tiến đối tác chiến lược, phía đối tác cũng đồng ý hoặc ngược lại. Đối với một số đối tác, nội dung cộng tác có mặt còn chưa xứng với tầm vóc quan hệ. Việt Nam và Đức chính thức trở thành đối tác chiến lược từ ngày 11-10-2011.
Thực tế quan hệ quốc tế cho thấy luôn luôn có khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực. Trên thế giới, có rất nhiều trường hợp quan hệ đối tác chiến lược không đáp ứng được các tiêu chí, nội hàm cũng như kỳ vọng về quan hệ đối tác chiến lược.
Đối với Việt Nam, ích nhà nước của chúng ta là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, hợp nhất và vẹn tuyền cương vực, bảo vệ chế độ và giữ vững môi trường hòa bình ổn định, tranh thủ mọi điều kiện quốc tế tiện lợi để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa giang sơn, song song cũng góp phần không ngừng nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bên cạnh đó, cần coi trọng các đối tác lớn, sát sườn đối với vấn đề an ninh và phát triển của Việt Nam để tiếp chuyện xúc tiến. Xây dựng và khai triển đối tác chiến lược: Các vấn đề cần lưu ý Bên cạnh những mặt thuận lợi như đã nêu ở trên, vẫn còn có một số hạn chế trong việc khai triển quan hệ đối tác chiến lược.
Nói tóm lại, quan hệ quốc tế đang thay đổi mau chóng theo hướng càng ngày càng đa dạng và phức tạp.
Trong quá trình khai triển chắc chắn sẽ không tránh khỏi khó khăn, thách thức. Các đối tác chiến lược trên một số lĩnh vực như Hà Lan và Đan Mạch đã có nhiều dự án cụ thể giúp Việt Nam đối phó với biến đổi khí hậu, chống thâm nhập mặn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trồng rừng… Việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược còn có tác dụng đòn bẩy, giúp củng cố cục diện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tăng cường vị thế của Việt Nam, không gây ra những hiệu ứng phụ và không để sơn hà bị kẹt giữa các nước lớn.
Từ kinh nghiệm thực tế những năm vừa qua cho thấy, thận trọng là điều cần thiết và cần xử lý tốt các vấn đề sau: Một là, đối tác chiến lược phải phục vụ tốt các lợi ích quốc gia. Ảnh: tuoitre. Khuynh hướng chung trên thế giới là trọng chất lượng và hiệu quả đối tác hiệp tác, nhưng trên thế giới không có bất cứ tiêu chí nào để định lượng bao nhiêu đối tác chiến lược là đủ đối với mỗi quốc gia.
Nhật Bản đã tương trợ Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, dự xây dựng nhà máy điện hạt nhân số 2… Quan hệ đối tác chiến lược với Hàn Quốc mở rộng chóng vánh. Trong quá trình thiết lập và triển khai đối tác chiến lược, việc thông báo, tuyên truyền đến với người dân và các doanh nghiệp, địa phương trên cả nước chưa thực sự được chú trọng.
Bước đầu, các đối tác chiến lược mà Việt Nam vừa thiết lập đã góp phần tạo ra những phạm vi quan hệ để hai bên cùng hướng vào xây dựng, phát triển. Lựa chọn đối tác, tìm đồng thuận về nội hàm. Trong khi vai trò và ý nghĩa của các liên minh quân sự càng ngày càng suy giảm, thì đối tác chiến lược đang nổi lên thành một trong những dụng cụ đa dụng và sắc bén của chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế mà các nước như Việt Nam cần triệt để tận dụng.
Thiết lập và triển khai đối tác chiến lược là hai quá trình hoàn toàn khác nhau, nhưng gắn bó khăng khít với nhau. Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, việc Việt Nam cố kỉnh xây dựng và triển khai quan hệ đối tác chiến lược với một số đối tác là một chủ trương thích hợp với khuynh hướng phát triển của thời đại.
TRẦN VIỆT THÁI (Viện Nghiên cứu Chiến lược-Học viện Ngoại giao) (tiếp theo và hết) Kỳ 1: Xu hướng khách quan và tất yếu. Đây là một quá trình lâu dài và rất cấp thiết để làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị và hiệp tác của Việt Nam với các đối tác trên thế giới. Chủ trương chung là không xây dựng quan hệ đối tác chiến lược bằng mọi giá.
Vn Nói tóm lại, ngoài hai mối quan hệ đặc biệt với Lào, Cam-pu-chia và mối quan hệ hữu nghị truyền thống và cộng tác nhiều mặt với Cu-ba, đến nay Việt Nam có 12 đối tác chiến lược đầy đủ và 2 đối tác chiến lược trong lĩnh vực hẹp với Hà Lan, Đan Mạch và một số đối tác toàn diện với Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân.
Hoặc như quan hệ đối tác chiến lược Hoa Kỳ-Ấn Độ, hiệp tác giữa hai nước về chính trị, an ninh rất hạn chế, nhưng quan hệ kinh tế thương mại lại rất lớn, kim ngạch thương mại song phương Hoa Kỳ-Ấn Độ năm 2012 đạt hơn 60 tỷ USD….
Vì thế, cần kiên trì, bình tĩnh xử lý trên cơ sở nắm vững ích nhà nước. Tỉ dụ như trong đối tác chiến lược với Nga, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều dự án hiệp tác dài hạn, có tính chiến lược như hiệp tác về năng lượng, nhất là về dầu khí và năng lượng điện hạt nhân, hợp tác trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng… Với Nhật, hai bên đã triển khai nhiều dự án hạ tầng cơ sở, giao thông quan trọng.
Một số nội dung hợp tác chưa được cụ thể hóa và chưa được khai triển tích cực.
Nhìn lại việc thiết lập và triển khai quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam trong thời gian qua, các đối tác chiến lược của Việt Nam, ở những mức độ khác nhau, đều đã có những đóng góp tích cực cho quan hệ song phương với đối tác cũng như tới "bàn cờ" đối ngoại chung của Việt Nam.
Các đối tác chiến lược đã từng bước đáp ứng được các lợi ích của Việt Nam trên nhiều mặt khác nhau. Tỉ dụ, Hoa Kỳ thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Gru-di-a nhưng Thực tế Gru-di-a chỉ là một đối tác rất nhỏ của Hoa Kỳ.
Bởi thế, kết quả chưa được như mong muốn; sự tham dự của các bộ, ngành, các doanh nghiệp và địa phương chưa sâu rộng… Chúng ta mới chỉ tập hợp xây dựng đối tác chiến lược trong vài năm trở lại đây; quá trình khai triển chưa dài, chưa tạo ra những kết quả có tính đột phá.
Phải có điểm đồng cả về nhận thức, thời gian, mục tiêu… Thiết lập xong đối tác chiến lược mới chỉ là sự khởi đầu. Các đối tác chiến lược đã giúp (i) xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam và các đối tác, đặc biệt, phạm vi đối tác chiến lược mở ra nhiều kênh đối thoại quan yếu đặc biệt ở cấp chiến lược và thực hiện chính sách vừa giúp xúc tiến quan hệ vừa giúp xử lý các bất đồng/khác biệt; (ii) đưa quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi dần vào ổn định, ngày một có chiều sâu và bền vững, đồng thời, chúng ta vẫn giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đa dạng hóa, đa phương hóa và ngày càng chủ động trong hội nhập quốc tế; và (iii) góp phần gia tăng cả về số lượng và chất lượng các dự án, các cơ chế hợp tác quốc tế, từng bước góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới.
Ba là, quý trọng chất lượng và xử lý thích đáng mối quan hệ giữa số lượng và hiệu quả.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét