Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Như tia nắng tận hưởng mặt trời.

Tuổi thơ của bà Điềm lắm truân chuyên

Như tia nắng mặt trời

Ngôi nhà ông mua nằm bên bờ sông Hương, đêm đêm có thể nghe tiếng hò mái nhì, mái đẩy xa vắng, buồn não nùng của những kỹ nữ, những cô gái đưa đò. Theo lời tâm can của bà trong lần tham gia Hội thảo Văn hóa quốc tế năm 1995 tại Đà Nẵng, chặng đường du học tại châu Âu cũng rất gian khổ, trong những năm kinh tế khó khăn sau thế chiến thứ hai.

Chính từ cái mốc này, tại Paris, thiên tài của Điềm Phùng Thị như tia nắng màng tang xuyên qua mù sương, ngày một phát sáng và lan tỏa khắp châu Âu. Theo lời chỉ dẫn của các bậc trưởng thượng ở thôn Vỹ Dạ - Huế, và hồi ký của bà Phùng Thị Đậu, tôi đi dọc theo bờ nam sông Hương (sông Hương đoạn chảy qua địa phận thôn Vỹ Dạ, bắt đầu từ Đập Đá đến Bến Cạn), song vết tích ngôi nhà xưa của họ Phùng (nay là đường Nguyễn Sinh Cung) không còn nữa! Lớn lên, theo thời cục biến động miên man, việc học hành của bà Điềm cũng không ổn định.

Tại Paris, bà hôn phối với nha sĩ Bửu Điềm, thuộc dòng dõi hoàng gia ở Huế. Theo hồi ký của bà Đậu: "Lăng Khải Định mới xây xong phần cốt lõi, chưa trang trí, cũng là thời kỳ mẹ tôi sắp sinh em bé, ba tôi đặt tên là Cúc. Từ năm 1941 - 1946 bà theo học nha khoa tại Đại học Hà Nội, tốt nghiệp khóa trước nhất dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa rồi đi kháng chiến, phục vụ trong ngành Y dược. Hết học tiểu học tại Huế, lên trung học ra Hà Nội học tại Trường Thăng Long, rồi trở lại học Trường Khải Định - Huế.

Tuấn kiệt điêu khắc thiên tính của bà chắc chắn cũng tiếp thụ ít nhiều khí chất, từ người cha làm Thượng thư bộ Công. Chúng tôi ở xa bên ngoại, nên khi ông ngoại tôi biết mẹ tôi bị bệnh mời ngự y đến khám, chuyển nhà thương thì bệnh đã trở nặng lắm rồi. Tuy mẹ mất sớm, bà mới lên ba tuổi, nhưng tính cách dịu dàng, hiền thục của người đàn bà Huế đã ảnh hưởng rất lớn đến vai trò làm vợ của bà Điềm Phùng Thị sau này: Chung thủy, tận tụy, chu đáo chăm sóc người chồng mắc bệnh hiểm nghèo một thời kì dài trước khi mất.

Công việc của ông Quản Đạo khôn xiết bận rộn, ông Cần không thể coi sóc các con được, ba chị em tự dạy bảo nhau học hành, chăm chút lẫn nhau. VŨ HÀO    KỲ SAU: Lao động và sáng tạo. Thiếu vắng tình mẫu tử, ba chị em còn phải chịu cảnh mẹ kế con chồng! Hơn nửa năm sau khi vợ chết, trong một lần đi hiểu dụ ở Nghệ Tĩnh, ông Phùng Duy Cần đón về một cô gái trẻ, bảo với các con là kế mẫu! Cuộc sống từ đấy không bình lặng, khi lăng Khải Định hoàn tất, triều đình bổ dụng ông Cần làm Quản đạo (tỉnh trưởng) tỉnh Kon Tum.

Những cơn đau bụng làm bà vật vã đau đớn, ba chị em tôi chỉ còn biết ôm nhau khóc. Cha của bà là ông Phùng Duy Cần vốn là một vị quan bộ Công triều Nguyễn (Bộ Xây dựng) có thừa tận tụy, giàu năng lực chuyên môn, nên được triều đình Huế “chọn mặt gửi vàng” đảm đang việc tổng chỉ huy xây dựng lăng vua Khải Định.

Cả gia đình ly tán một lần nữa. Học hành đầy biến động  Tuy Lý Vương Phủ (Vỹ Dạ - Huế), nơi bà Điềm về làm dâu tôn thất Do hoàn thành tốt công việc ở Pleiku, ông Phùng Duy Cần lại được điều về đế kinh - Huế, giữ chức Tham tri bộ Công, ở đây cho đến cuối năm 1944 thì về hưu với chức Công bộ Thượng thư Hiệp tá Đại học sĩ

Như tia nắng mặt trời

Đến năm 1953, bà cùng chồng trình luận án và đỗ tấn sĩ nha khoa. Từ năm 1959 bà đã có ý định rời bỏ nghề nha sĩ, để đến với nghệ thuật điêu khắc, nên xin làm học viên tự do trong xưởng của Giáo sư Volti. Chính những giọng hò Huế man mác thẳm sâu ấy đã ăn sâu vào tâm hồn ngây thơ của ba chị em. Ba tôi luôn vắng nhà.

Tuổi thơ không bình yên  Chân dung bà Điềm Phùng Thị Điềm Phùng Thị tên thật là Phùng Thị Cúc, sinh ngày 18/8/1920 tại làng Châu Ê, xã Thủy Bằng (nay thuộc thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế).

Khi Cúc được hơn hai tuổi, mẹ tôi bị bệnh. Tuy thế nghề nha sĩ không hấp dẫn bà bằng âm vang mỹ thuật của Paris - “kinh thành” của nghệ thuật thế giới. Năm 1966, bà mở cuộc triển lãm đầu tiên tại Nhà Thanh niên Paris, được sự quan hoài và khuyến khích của Raymond Cogniat, nhà phê bình kỳ cựu ở báo Le Figaro.

Ba chị em rời thôn Châu Ê, theo cậu, dì và ông ngoại đón về nuôi ở thôn Vĩ Dạ, còn bà kế mẫu trẻ được cho trở lại quê nhà. Các tượng “Mẹ Con”, “Trẻ con” sau khi triển lãm được chính phủ Pháp mua, dựng trong một công viên trẻ con ở Paris.

Qua năm 1948, bà bị bệnh trầm trọng, nên được đưa sang Pháp điều trị, rồi học bổ túc nha khoa và tốt nghiệp 1950. Chị ruột bà – bà Phùng Thị Đậu còn nhớ: “Lên sáu tuổi, Cúc hay xuống xưởng mộc, xưởng ngà voi, sừng trâu, lượm những đồ phế thải ra để làm đồ chơi, xâu thành chuỗi vòng tay, vòng cổ, đủ các hình thù rất ngộ nghĩnh”.

Nha sĩ Nguyễn Phúc Bửu Điềm (sinh năm 1919, mất năm 1997), con trai của ông Nguyễn Phúc Ưng Hạ, cháu nội của Nguyễn Phúc Hồng Thiết, thuộc phòng 11 –phủ Tuy Lý Vương Miên Trinh. Bà là con gái út của ông Phùng Duy Cần, người gốc Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, làm quan triều Nguyễn (Bộ Công) lấy vợ người Huế (nguyên quán Vỹ Dạ, thành thị Huế). Vì sao bà chọn bút danh Điềm Phùng Thị? Điềm là tên chồng, thành thân năm 1953.

Sống yên với ngoại ở Vỹ Dạ chưa được lâu, ba chị em lại theo cha lên Kon Tum. Ít tháng sau, ông Cần đến nhiệm sở mới, ổn định chỗ ở. Mẹ tôi mất, bỏ lại chúng tôi, Cúc 3 tuổi”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét